Từ 16/7, bố mẹ không được đặt tên con quá dài

05/07/2020 10:04

Theo thông tư 04/2020 có hiệu lực từ ngày 16/7, việc xác định họ, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật, giữ gìn bản sắc dân tộc, không đặt tên quá dài, khó sử dụng.

Vào ngày 28/5, Bộ Tư Pháp đã ban hành Thông tư 04/2020/TT-BTP về Hộ tịch để thay thế cho thông tư số 15/2015/TT-BTP. Thông tư 04 mới có hiệu lực từ ngày 16/7/2020 với nhiều điểm mới đáng chú ý, được cho là tạo điều kiện thuận lợi cho người dân thực hiện thủ tục hành chính.

Cụ thể, trong điều Điều 6 về 'Nội dung khai sinh', một nội dung mà các bậc cha mẹ hoặc những người được ủy quyền khai sinh cần lưu ý chính là việc đặt tên cho đối tượng được khai sinh.

'Việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng', Thông tư 04 quy định.

Cho đến thời điểm hiện tại, việc đặt tên không có quy định cụ thể. Nhiều người tên quá dài, dẫn đến việc khi làm giấy tờ tùy thân, bằng lái xe phải viết tắt chữ đệm. Thậm chí, một số cá nhân đã phải xin đổi tên vì tên quá dài dẫn đến việc không thể đăng ký một số dịch vụ như làm thẻ ngân hàng.

Chính vì vậy, việc đặt tên cho trẻ phù hợp không chỉ đúng pháp luật mà còn tránh những rắc rối về sau khi trẻ lớn lên.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Ngoài ra, Thông tư 04 còn có nhiều điểm đáng lưu ý khác mà các gia đình cần lưu ý khi đi làm giấy khai sinh cho trẻ:

Trường hợp khai sinh cho con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng không được thừa nhận là con chung

Trường hợp con do người vợ sinh ra hoặc có thai trong thời kỳ hôn nhân nhưng vợ hoặc chồng không thừa nhận là con chung hoặc người khác muốn nhận con thì do Tòa án nhân dân xác định theo quy định pháp luật.

Trường hợp Tòa án nhân dân từ chối giải quyết thì cơ quan đăng ký hộ tịch tiếp nhận, giải quyết yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em chưa xác định được cha hoặc đăng ký nhận cha, con, hồ sơ phải có văn bản từ chối giải quyết của Tòa án và chứng cứ chứng minh quan hệ cha, con.

Ông bà đi khai sinh cho cháu không cần giấy ủy quyền

Về việc ủy quyền đăng ký hộ tịch, Thông tư 15/2015/TT-BTP có quy định như sau:

'Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền'.

Theo Thông tư 04 mới bổ sung quy định sau:

'Trường hợp người đi đăng ký khai sinh cho trẻ em là ông, bà, người thân thích khác theo quy định tại khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch thì không phải có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ em, nhưng phải thống nhất với cha, mẹ trẻ em về các nội dung khai sinh'.

Như vậy, kể từ ngày 16/7/2020, khi Thông tư 04 của Bộ Tư pháp có hiệu lực, ông bà hoặc người thân thích khác hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ em đi đăng ký khai sinh cho trẻ không cần có văn bản ủy quyền của cha, mẹ trẻ.

Theo dõi các diễn biến mới nhất về dịch Covid-19, cập nhật 24/24 cùng Tiin.vn TẠI ĐÂY
Theo H.V/Toquoc.vn

#đặt tên con #Luật Hộ tịch #Bộ tư pháp #thủ tục hành chính #Thông tư 04 #bố mẹ không được đặt tên con quá dài

Từ ngày 1/7, viên chức bị chấm dứt hợp đồng làm việc trong những trường hợp nào?

26/05/2020 08:51

Điều 29 Luật hiện hành quy định có 5 trường hợp viên chức bị đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc. Tuy nhiên, từ 1/7/2020 khi Luật sửa đổi Luật Viên chức chính thức có hiệu lực bổ sung thêm 1 trường hợp.

Từ ngày 1/7, viên chức bị chấm dứt hợp đồng làm việc trong những trường hợp nào? - Hình minh họa

Từ ngày 1/7, viên chức bị chấm dứt hợp đồng làm việc trong những trường hợp nào? - Hình minh họa

Hiện nay, viên chức đang được ký hai loại hợp đồng làm việc với đơn vị sự nghiệp công lập là hợp đồng làm việc xác định thời hạn và hợp đồng làm việc không xác định thời hạn.

Theo điều 25 Luật Viên chức năm 2010, hai loại hợp đồng này được quy định cụ thể như sau:

Hợp đồng xác định thời hạn: Có thời hạn từ 12 - 36 tháng, hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

Hợp đồng không xác định thời hạn: Trong hợp đồng không quy định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực hợp đồng.

Bên cạnh đó, Điều 29 Luật hiện hành quy định có 5 trường hợp đơn vị sự nghiệp công lập được đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc với viên chức: Có 2 năm liên tiếp bị đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ; Bị buộc thôi việc; Bị ốm đau đã điều trị 12 tháng liên tục (làm việc theo hợp đồng làm việc không xác định thời hạn). Bị ốm đau đã điều trị 6 tháng liên tục mà khả năng làm việc chưa hồi phục (làm việc theo hợp đồng làm việc xác định thời hạn); Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng buộc đơn vị sự nghiệp công lập phải thu hẹp quy mô, khiến vị trí việc làm của viên chức không còn; Đơn vị sự nghiệp công lập chấm dứt hoạt động theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Thì nay, Luật sửa đổi đã bổ sung thêm 1 trường hợp nữa là khi viên chức không đạt yêu cầu sau thời gian tập sự.

Khi được tuyển dụng, viên chức sẽ có thời gian tập sự để làm quen với vị trí việc làm được tuyển dụng trong thời gian từ 3 tháng đến 12 tháng. Và nếu sau thời gian này, viên chức không đạt yêu cầu thì đơn vị sự nghiệp có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng.

Theo dõi các diễn biến mới nhất về dịch Covid-19, cập nhật 24/24 cùng Tiin.vn TẠI ĐÂY
Theo Cự Giải (T/h)/Doisongphapluat.com

#quy định mới #viên chức bị chấm dứt hợp đồng #hợp đồng lao động

Từ 1-7, công chức có thể được xét nâng ngạch

01/07/2020 10:52

việc nâng ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và được thực hiện thông qua thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch

Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức, số 52/2019/QH14. Luật này đã 'nới' điều kiện nâng ngạch đối với công chức từ ngày 1-7-2020.

Từ ngày 1-7-2020, công chức có thể được xét nâng ngạch công chức thay vì chỉ thi tuyển như trước đây

Từ ngày 1-7-2020, công chức có thể được xét nâng ngạch công chức thay vì chỉ thi tuyển như trước đây

Theo đó, việc nâng ngạch công chức phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và được thực hiện thông qua thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch. Trong khi theo quy định cũ, việc nâng ngạch phải căn cứ vào vị trí việc làm, phù hợp với cơ cấu công chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị và (chỉ) thông qua thi tuyển.

Như vậy, từ ngày 1-7-2020, công chức có thể được xét nâng ngạch công chức thay vì chỉ thi tuyển như trước đây. Công chức có đủ tiêu chuẩn, điều kiện để đảm nhận vị trí việc làm tương ứng với ngạch cao hơn thì được đăng ký dự thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch.

Việc thi nâng ngạch, xét nâng ngạch phải bảo đảm nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật. Công chức trúng tuyển kỳ thi nâng ngạch hoặc xét nâng ngạch được bổ nhiệm vào ngạch công chức cao hơn và được xem xét bố trí vào vị trí việc làm tương ứng.

Theo dõi các diễn biến mới nhất về dịch Covid-19, cập nhật 24/24 cùng Tiin.vn TẠI ĐÂY
Theo H.Lê/Nld.com.vn

#xét nâng ngạch công chức #lương #nâng lương

Từ năm 2020, không bật đèn xi nhan có thể bị phạt 5 triệu đồng

04/07/2020 08:36

Theo Nghị định 100 có hiệu lực từ 1/1/2020, khi chuyển làn mà không bật tín hiệu rẽ, người điều khiển phương tiện có thể bị CSGT phạt tới 5 triệu đồng.

Cụ thể, Nghị định 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ 1/1/2020 quy định, người lái xe không có tín hiệu báo (xi nhan) trong những trường hợp sau sẽ bị xử phạt:

Đối với người chạy xe máy:

- Chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước thì phạt tiền từ 100.000 - 200.000 đồng (mức phạt tiền cũ là từ 80.000 - 100.000 đồng).

- Chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức) bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng (mức phạt tiền cũ là từ 300.000 - 400.000 đồng).

Từ năm 2020, không bật đèn xi nhan có thể bị phạt 5 triệu đồng. Ảnh minh họa

Từ năm 2020, không bật đèn xi nhan có thể bị phạt 5 triệu đồng. Ảnh minh họa

Đối với người lái ô tô:

- Dừng, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết bị phạt từ 200.000 đến 400.000 đồng.

- Chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước sẽ bị phạt tiền từ 400.000 - 600.000 đồng (mức phạt tiền cũ là từ 300.000 - 400.000 đồng).

- Chuyển hướng không có tín hiệu báo hướng rẽ (trừ trường hợp điều khiển xe đi theo hướng cong của đoạn đường bộ ở nơi đường không giao nhau cùng mức) thì phạt tiền từ 800.000 đồng – 1.000.000 đồng (mức phạt tiền cũ là từ 600.000 - 800.000 đồng).

- Lùi xe không có tín hiệu báo trước bị phạt từ 800.000 đến 1 triệu đồng.

- Chuyển làn đường không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc thì bị phạt tiền từ 3 - 5 triệu đồng, tước bằng lái xe từ 1 - 3 tháng (mức phạt tiền cũ là từ 800.000 đồng - 1,2 triệu đồng).

Theo dõi các diễn biến mới nhất về dịch Covid-19, cập nhật 24/24 cùng Tiin.vn TẠI ĐÂY
Theo Hoàng Yên (T/h)/Doisongphapluat.com

#xử phạt không bật đèn xi nhan #mức xử phạt

Mới nhất