Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.

Tầm soát phát hiện bệnh sớm tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Bạch Mai. (Ảnh THẾ ANH)
Ung thư phổi hiện là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu do ung thư tại Việt Nam, với khoảng 25.000 ca mắc mới mỗi năm. Đáng chú ý, hiện hơn 70% số bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn, khiến việc điều trị gặp khó khăn và chi phí lớn.
Từ thực tế điều trị, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, bác sĩ Đỗ Hùng Kiên (Phó Giám đốc Bệnh viện K) cho biết: Mới có khoảng 20% số bệnh nhân ung thư phổi đến với các cơ sở y tế ở giai đoạn sớm, còn lại là các giai đoạn muộn. Trong các giai đoạn muộn, giai đoạn 4 chiếm khoảng 40-50%; giai đoạn 3 chiếm khoảng 25 đến 30%. Bệnh nhân đến muộn khi đã có các triệu chứng như khó thở, đau ngực, ho, hoặc thậm chí khi đã có triệu chứng di căn (đau xương, đau đầu…).
Việc đến muộn cũng gây nhiều khó khăn cho điều trị và hệ thống y tế, vì quá trình chẩn đoán và điều trị kéo dài hơn so với giai đoạn sớm. Trong khi đó, ở giai đoạn sớm, khả năng điều trị khỏi bệnh cao, thời gian điều trị ngắn. Mặt khác, đến sớm, chi phí cho bệnh nhân và gánh nặng cho xã hội, ngành y tế giảm đáng kể; bệnh nhân giai đoạn sớm dễ hòa nhập lại với xã hội và công việc; còn giai đoạn muộn (giai đoạn 4) phải điều trị kéo dài, nhưng cũng chỉ nhằm mục tiêu kiểm soát bệnh chứ không phải chữa khỏi, gây gánh nặng rất lớn cho hệ thống y tế.
Ở Việt Nam, việc phát hiện sớm chủ yếu nhờ nhận thức cá nhân, khám sức khỏe định kỳ qua cơ quan tổ chức hoặc tình cờ. Khi được phát hiện sớm (giai đoạn 1, 2), phương pháp điều trị chính là phẫu thuật, kết hợp hóa chất, miễn dịch, điều trị đích bổ trợ… mục tiêu điều trị là chữa khỏi bệnh và thời gian điều trị ngắn.
Theo số liệu thống kê, nếu ở giai đoạn 1, tỷ lệ sống trên 5 năm (khỏi bệnh) từ 70-90%; giai đoạn 2 giảm xuống khoảng 50-60%; giai đoạn 3 chỉ còn 10-36% và giai đoạn 4 thì chỉ còn khoảng 10%. Đối với bác sĩ, nếu điều trị ở giai đoạn sớm thì trong cùng một khoảng thời gian, có thể điều trị được gấp hai đến ba lần số lượng bệnh nhân so với giai đoạn muộn, vì giai đoạn muộn đòi hỏi điều trị đa mô thức, phối hợp nhiều phương pháp, thời gian rất dài.
Từ những phân tích trên cho thấy, việc phát hiện bệnh sớm không chỉ giúp giảm gánh nặng cho gia đình bệnh nhân mà còn trực tiếp giúp cho các y bác sĩ giảm bớt được gánh nặng điều trị. Các chuyên gia y tế khẳng định, ung thư phổi hoàn toàn có thể được phát hiện sớm nếu người dân được tầm soát định kỳ, nhất là đối với các nhóm nguy cơ cao.
Với sự phát triển của khoa học, tại nhiều nước trên thế giới đã triển khai chương trình sàng lọc bằng X-quang phổi kết hợp ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) nhằm hỗ trợ phát hiện sớm bệnh, góp phần giảm gánh nặng điều trị cho hệ thống y tế.
Tiến sĩ Lê Thái Hà, Phó Cục trưởng Cục Phòng bệnh (Bộ Y tế) cho biết: Ung thư đã được đưa vào Chiến lược quốc gia về phòng, chống bệnh không lây nhiễm từ rất sớm. Nhưng việc xây dựng một chiến lược tổng thể cho sàng lọc và phát hiện sớm tất cả các bệnh không lây nhiễm vẫn còn là một hướng đi tương đối mới. Mục tiêu của sàng lọc không chỉ là phát hiện bệnh, mà còn giúp người dân nhận biết rõ hơn về tình trạng sức khỏe của bản thân. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất hiện nay là sự không đồng đều về năng lực của hệ thống y tế, cả về nhân lực và trang thiết bị.
Từ kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, để sàng lọc sớm ung thư phổi, có thể triển khai sàng lọc cộng đồng bằng X-quang kết hợp AI. AI có thể hỗ trợ bác sĩ chẩn đoán nhanh và hiệu quả hơn, nhưng không thể thay thế hoàn toàn vai trò của bác sĩ, do đó yêu cầu về nguồn nhân lực vẫn rất quan trọng. Bên cạnh sàng lọc cộng đồng, cần triển khai sàng lọc có trọng điểm cho nhóm nguy cơ cao: những người hơn 50 tuổi; người liên quan thuốc lá; người làm nghề thường xuyên tiếp xúc với hóa chất, khí độc, môi trường ô nhiễm, bệnh nghề nghiệp hoặc amiăng… 'Hiện nay, tỷ lệ bệnh nhân ung thư phổi ngày càng tăng, và mục tiêu đưa ra là giảm số ca mắc mới, đồng thời tăng tỷ lệ phát hiện ở giai đoạn sớm. Chúng ta cần một chương trình tổng thể cấp quốc gia, thay vì các hoạt động rời rạc tại từng bệnh viện hoặc nhóm chuyên môn' - Tiến sĩ Lê Thái Hà nhận định.
Trong bối cảnh ngành y tế đang nỗ lực thực hiện Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị với quan điểm chỉ đạo là chuyển trọng tâm từ tập trung khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh thì việc triển khai các chương trình tầm soát, phát hiện sớm các bệnh, trong đó có ung thư phổi là cần thiết. Luật Phòng bệnh cũng đã quy định mỗi người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc sàng lọc ít nhất một lần/năm là căn cứ để thúc đẩy sàng lọc sớm.
Việc có một chương trình sàng lọc quốc gia là mong mỏi lớn của các bác sĩ lâm sàng. Phòng bệnh là để giảm tỷ lệ mắc, còn phát hiện sớm là để giảm tỷ lệ tử vong. Trong ung thư, hai mục tiêu này luôn song hành nhưng có cách tiếp cận khác nhau. Tốt nhất vẫn là phòng bệnh từ xa để không mắc bệnh, nhưng nếu đã mắc thì phải phát hiện càng sớm càng tốt, và khi đã chẩn đoán thì cần điều trị tối ưu, hợp lý và bảo đảm tuân thủ.
Ưu tiên sàng lọc cho nhóm nguy cơ cao như một giải pháp khả thi và hiệu quả ngay trong ngắn hạn. Từng bước xây dựng chương trình sàng lọc ung thư phổi cấp quốc gia, gắn với các chương trình mục tiêu quốc gia và chiến lược phòng, chống bệnh không lây nhiễm sẽ là nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu dài hạn: Giảm tỷ lệ tử vong do ung thư phổi và nâng cao chất lượng sống cho người dân Việt Nam.