Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.
Cuộc chiến đi vào lòng địch đưa đồng đội hy sinh trở về
Trong căn nhà nhỏ của Trung tá Nguyễn Cảnh Lương (SN 1952), ở xã Vạn An (Nghệ An), những tấm huân, huy chương cao quý Nhà nước trao tặng được ông trân trọng treo ở vị trí trang trọng.
Huân chương Quân kỳ Quyết thắng, Huy chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất… nhắc nhớ về những năm tháng ông cùng đồng đội chiến đấu, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Hồi nhớ về ký ức những ngày tháng nơi chiến trường, ông Lương không khỏi xúc động. Năm 20 tuổi, khi là đảng viên trẻ, ông xung phong ra trận. Sau 3 tháng huấn luyện và một tháng hành quân bộ, ngày 20/6/1972, người lính Nguyễn Cảnh Lương thuộc Đại đội 2, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27, Quân khu 4 có mặt trong đội hình vượt sông để sang Thành cổ Quảng Trị.

Trung tá Nguyễn Cảnh Lương kể về cuộc chiến 81 ngày đêm quyết giữ Thành cổ Quảng Trị. Ảnh: Kim Long
Ngày 28/6/1972, họ chính thức bước vào cuộc chiến đấu giữ Thành cổ. Thời điểm này, Thành cổ được ví như một 'chảo lửa'. Trên diện tích 3 km², Mỹ đã ném xuống hơn 328.000 tấn bom, đạn, tương đương 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) năm 1945 trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
Không chỉ trải qua những ngày hè gió Lào cháy rát, họ còn chiến đấu trong mùa mưa, khi nước lũ dâng lên ngập cả hầm hào. 'Những ngày tháng đó, phải nói sức chịu đựng của anh em thật phi thường, nhưng thương vong nhiều quá', ông xúc động.
Trong một lần tấn công đẩy lùi địch ngày 16/8/1972, người lính Nguyễn Cảnh Lương bị một mảnh pháo địch trúng đầu, được đưa về trạm phẫu phía sau điều trị. Chưa đầy một tháng sau, khi vết thương chưa lành hẳn, Trung sĩ Nguyễn Cảnh Lương nằng nặc xin sang sông, tiếp tục chiến đấu.
Nhiệm vụ đầu tiên khi trở lại đơn vị là cùng 4 đồng đội 'đi lấy xác'. Theo mệnh lệnh của Đại đội trưởng, tổ 5 người có nhiệm vụ vào khu vực địch chiếm đóng, tìm và đưa 3 người lính của đơn vị trở về, trong đó có Đại đội phó tên Ngọc.
Từ chập tối, 5 người lặng lẽ lên đường. Họ ẩn mình trong bóng tối, giữa lớp đất nhão nhoét, vượt qua những hố bom, hố đạn đặc quánh bùn lầy, nhích từng chút vào sâu trong lòng địch. Hành trình gặp muôn vàn khó khăn bởi dưới sức mạnh của bom, đạn hạng nặng, địa hình có thể thay đổi chỉ sau một đợt tấn công. Chưa kể, họ có thể lọt vào ổ phục kích của địch bất cứ lúc nào.

Người lính già nhớ lại ký ức đưa đồng đội đã hy sinh trở về. Ảnh: Kim Long
Sau đó, họ khựng lại khi phát hiện 3 đồng đội của mình trên mô đất, được xếp hàng ngang ngay ngắn. Chính sự bất thường này khiến họ cảnh giác, có thể đây là một cái bẫy được phía bên kia giăng ra...
Lúc này, chiến sĩ Lương ra hiệu cho mọi người tìm nơi ẩn nấp, rồi bò lại gần nơi 3 đồng đội đang nằm, dùng tay để kiểm tra khu vực xung quanh. Đúng như dự đoán, ngay phía trước thi thể thứ nhất là một quả lựu đạn, được úp bên ngoài bởi vỏ lon sữa. Quả đạn đã tháo chốt, chỉ cần xê dịch, khiến vỏ lon rơi ra là phát nổ. Nếu không kịp phát hiện chiếc bẫy đạn này, họ có thể đã hy sinh.
Sau khi vô hiệu hóa quả đạn thứ nhất, Trung sỹ Lương nhích dần sát 3 thi thể, phát hiện quả lựu đạn thứ 2 được ngụy trang như cũ và nhanh chóng vô hiệu hóa nó.
5 người không thể đưa 3 thi thể trở về, anh phân công một đồng đội về đơn vị xin bổ sung lực lượng vận tải. Những người còn lại vừa kéo vừa đẩy, dựa vào giao thông hào đầy bùn nước để đưa anh em trở về.
Kỷ vật từ chiến trường
Điều khiến người lính đau lòng là 3 đồng đội nằm đó nhưng họ không thể nhận diện được khuôn mặt. Chỉ một người đã hy sinh nhưng trong tay vẫn cầm chiếc la bàn. Ông nghĩ đây có thể là anh Ngọc, vì thường chỉ có cán bộ cấp đại đội trở lên mới có la bàn để dùng.
Sau khi trở về đơn vị, hai kíp nổ tháo từ 2 quả lựu đạn được ông bàn giao lại cho vị Đại đội trưởng. Riêng chiếc la bàn của người đồng đội ông giữ lại cho đến tận bây giờ.

Chiếc la bàn của đồng đội được ông Lương gìn giữ đến hôm nay. Ảnh: Kim Long
Ngày 16/9/1972, khi lực lượng của ta rút khỏi Thành cổ Quảng Trị. Trung sỹ - Tiểu đội Trưởng Nguyễn Cảnh Lương sau đó tiếp tục thực hiện nhiệm vụ tại thị xã Quảng Trị cho đến ngày 5/10/1973 thì chuyển sang nhiệm vụ khác. Ông ra Bắc học, sau đó trở lại quân ngũ, công tác đến khi nghỉ hưu với cấp hàm Trung tá.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng trong lòng ông vẫn canh cánh nhiều điều, về những người đồng đội, đồng chí của mình, về cả những người ở bên kia chiến tuyến.
Những năm sau này, khi có thời gian và kinh tế ổn định hơn, ông nhiều lần trở lại thăm Quảng Trị, thăm Thành cổ, thắp nén hương cho đồng đội đã nằm lại nơi này dù chưa kịp biết tên nhau.
Cầm trên tay kỷ vật của đồng đội đã hy sinh, ông Lương trầm ngâm đôi mắt ngấn lệ. Hơn 50 năm qua, chiếc la bàn cũ vẫn chỉ đúng hướng, nhưng chủ nhân của nó là ai luôn là điều khiến ông đau đáu nghĩ về.


Những huân huy chương là sự ghi nhận của Nhà nước đối với những đóng góp to lớn trong công cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc mà ông tham gia. Ảnh: Kim Long
Ông xúc động tâm sự: 'Ngày thường không nhớ thì thôi chứ mỗi khi nhìn thấy kỷ vật đấy là lòng tôi lại chùn xuống vì nhớ thương đồng đội. Tôi may mắn được trở về, sống trong thời bình, còn nhiều đồng đội đã mãi mãi nằm lại đất mẹ ở Thành cổ Quảng Trị'.
Hiện nay, Trung tá Nguyễn Cảnh Lương nằm trong Ban Chấp hành Hội chiến sĩ Thành cổ Quảng Trị năm 1972 tỉnh Nghệ An. Trải qua những ngày tháng chiến đấu ở chiến trường khốc liệt, giờ đây người lính già dành phần đời còn lại để gìn giữ ký ức về những người đã nằm xuống vì Tổ quốc.