Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.
Ngày 12/12, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc về phòng chống bại liệt để cập nhật tình hình khu vực và bàn giải pháp ứng phó khẩn cấp.
PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương, Thứ trưởng Bộ Y tế khẳng định, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật trong phòng, chống bệnh bại liệt.
Nhờ duy trì liên tục Chương trình Tiêm chủng mở rộng với tỷ lệ trên 95% trẻ em được tiêm hoặc uống vắc xin bại liệt hằng năm, nước ta không ghi nhận ca mắc nào suốt nhiều thập kỷ và được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) công nhận thanh toán bệnh bại liệt từ năm 2000.
Tuy nhiên, Thứ trưởng cảnh báo nguy cơ vi rút bại liệt xâm nhập trở lại đang ở mức cao và hiện hữu trước diễn biến phức tạp trong khu vực.
Điển hình, Lào đã tuyên bố dịch bại liệt toàn quốc ngày 17/10/2025, sau khi phát hiện một ca dương tính với vi rút bại liệt tuýp 1 có nguồn gốc từ vắc xin (VDPV1) vào cuối tháng 8 và thêm hai trường hợp dương tính qua mẫu phân của trẻ khỏe mạnh vào đầu tháng 10/2025.

PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hương - Thứ trưởng Bộ Y tế phát biểu tại hội nghị. Ảnh: Bộ Y tế
Theo Cục Y tế dự phòng, nguy cơ bại liệt đối với Việt Nam hiện ở mức đáng lo ngại do 4 nguyên nhân chính.
Thứ nhất, Việt Nam có đường biên giới dài, giao lưu dân cư thường xuyên với Lào – nơi vừa ghi nhận ca VDPV1.
Thứ hai, tỷ lệ tiêm chủng bại liệt giảm mạnh. OPV3 (vắc xin bại liệt dạng uống) từ mức 70,3% (2022) xuống 66,7% (2023) và chỉ đạt 72,5% (2024). Đến tháng 10/2025, tỷ lệ bao phủ tiếp tục thấp, OPV3 chỉ 60,7% và IPV2 ở mức 75%, chưa đủ để duy trì miễn dịch cộng đồng.
Thứ ba, Việt Nam từng ghi nhận virus bại liệt Sabin-like type 3 biến đổi tại Đắk Lắk năm 2024, chứng tỏ nguy cơ virus biến đổi lưu hành trong cộng đồng là có thật.
Thứ tư, giám sát môi trường công cụ quan trọng giúp phát hiện virus âm thầm lưu hành đã bị gián đoạn từ năm 2023.
Bộ Y tế đánh giá nguy cơ dựa trên bộ công cụ của WHO tại 34 địa phương. Kết quả cho thấy 7 tỉnh ở mức nguy cơ cao gồm: Cao Bằng, Gia Lai, Đồng Nai, Đồng Tháp, Tây Ninh, Sóc Trăng và Trà Vinh.
Đánh giá theo mối đe dọa, 8 tỉnh khác ở mức nguy cơ cao: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Sơn La, Điện Biên, Quảng Trị, Quảng Ngãi và Đắk Lắk — những nơi có giao lưu biên giới, dân cư phân tán hoặc di biến động lớn.
Ngoài ra, 33 tỉnh được xếp vào mức nguy cơ trung bình, trong đó nhiều địa phương giáp Lào. Một số tỉnh như: Gia Lai, Tây Ninh, Bắc Ninh, Cao Bằng, Ninh Thuận, Bình Định, Đồng Nai, Đồng Tháp, Sóc Trăng chưa đáp ứng yêu cầu giám sát ca bệnh.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Sáng kiến Toàn cầu về Thanh toán bại liệt (GPEI) khuyến nghị Việt Nam phải triển khai đồng bộ 6 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm giảm thiểu nguy cơ virus xâm nhập và bùng phát.
Trước hết, cần tổ chức ngay các chiến dịch tiêm bổ sung tại những địa phương có nguy cơ cao, đồng thời tăng tốc tiêm bù, tiêm vét trên phạm vi toàn quốc để thu hẹp khoảng trống miễn dịch.

Tăng cường hoạt động tiêm chủng thường xuyên nhằm duy trì và nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong cộng đồng. Ảnh: UNICEF
Cùng với đó, Việt Nam cần xây dựng kế hoạch ứng phó toàn diện, bao gồm các hoạt động tiêm chủng, giám sát và xét nghiệm. Công tác giám sát liệt mềm cấp phải được củng cố theo hướng chủ động, nâng ngưỡng giám sát lên tối thiểu 2 ca/100.000 trẻ; khôi phục giám sát môi trường tại miền Bắc và mở rộng sang các khu vực nguy cơ.
WHO cũng đề nghị tăng cường phối hợp xuyên biên giới với Lào, mở rộng hợp tác với WHO, UNICEF và GPEI; đồng thời chia sẻ thông tin kịp thời với mạng lưới bại liệt toàn cầu.
Cuối cùng, Việt Nam cần sớm ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn Luật Phòng bệnh nhằm hoàn thiện khung pháp lý phục vụ công tác phòng, chống bại liệt trong dài hạn.
Bại liệt (Poliomyelitis) là bệnh nhiễm virus cấp tính lây qua đường tiêu hoá, có thể lan rộng thành dịch. Người bệnh và cả người lành mang virus đều thải poliovirus qua phân, làm ô nhiễm nước và thực phẩm. Virus sau khi xâm nhập có thể tấn công hệ thần kinh trung ương, gây tổn thương tủy sống và dẫn đến liệt mềm cấp. Khoảng 1% trường hợp diễn tiến liệt điển hình với sốt, đau cơ, yếu liệt không đối xứng, có thể gây suy hô hấp và để lại di chứng vĩnh viễn.