Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.

Nhiều diện tích lúa ở tỉnh Vĩnh Long từng bị thiệt hại nặng nề do hạn, mặn. (Ảnh: TTXVN)
Cảnh báo hạn hán, xâm nhập mặn
Nhớ lại đợt hạn hán lịch sử do El Nino gây ra giai đoạn 2015-2016, ông Võ Quang Thành ở thôn 1B, xã Ea Drăng (Đắk Lắk) cho biết: 'Nắng nóng kéo dài đã gây thiếu nước sinh hoạt và sản xuất của cả vùng, khiến nhiều vườn cây của bà con chết khô, mất trắng. Rẫy cà-phê của gia đình tôi may mắn nằm gần suối cho nên vẫn có một phần nước tưới cầm cự. Tuy nhiên, do lượng nước tưới bị thiếu hụt, năng suất cuối vụ vẫn sụt giảm đến 40%'.
Năm 2015-2016, khu vực Tây Nguyên là một trong những điểm nóng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng từ El Nino. Chỉ trong vụ đông xuân 2016, khoảng 180.000ha cây trồng, chủ yếu là cà-phê, hồ tiêu bị thiệt hại. Tại Nam Trung Bộ, tình trạng khô hạn kéo dài cũng gây ảnh hưởng đến 120.000ha sản xuất nông nghiệp.
Nặng nề nhất là Ninh Thuận (cũ), dù đã bước vào cuối mùa mưa năm 2015, lượng nước tích trữ tại các hồ chứa chỉ đạt khoảng 30% so với dung tích thiết kế, đẩy ngành nông nghiệp địa phương vào tình thế vô cùng khó khăn.
Còn tại Đồng bằng sông Cửu Long, xâm nhập mặn khiến hơn 400.000ha lúa và khoảng 30.000ha vườn cây ăn trái bị ảnh hưởng, thiệt hại.
Hiện tượng thời tiết cực đoan El Nino đang quay trở lại và đe dọa trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp. Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng-Thủy văn quốc gia Hoàng Phúc Lâm cho biết, các dự báo hiện nay cho thấy El Nino đã xuất hiện từ tháng 6 và có khả năng kéo dài sang đầu năm 2027, với 60-65% nguy cơ đạt cường độ rất mạnh. Hệ lụy lớn nhất của đợt El Nino này là tình trạng thâm hụt lượng mưa nghiêm trọng (giảm 20-50% so với trung bình nhiều năm) tại miền trung vào các tháng cuối năm, kéo theo nguy cơ thiếu hụt nguồn nước diện rộng cho cả khu vực Trung Bộ và Nam Bộ.
Theo nhận định của các chuyên gia, khả năng đợt El Nino này sẽ đạt mức cực kỳ gay gắt, tương đương với kỷ lục của giai đoạn 2015-2016, thậm chí có thể nằm trong nhóm các đợt El Nino mạnh nhất trong hơn 70 năm qua.
Theo nhận định của các chuyên gia, khả năng đợt El Nino này sẽ đạt mức cực kỳ gay gắt, tương đương với kỷ lục của giai đoạn 2015-2016, thậm chí có thể nằm trong nhóm các đợt El Nino mạnh nhất trong hơn 70 năm qua.
Nếu El Nino hình thành theo kịch bản dự báo, nhiệt độ trung bình trên cả nước có xu hướng cao hơn bình thường, số ngày nắng nóng gia tăng, cường độ gay gắt hơn năm 2025.
Lượng mưa có khả năng thiếu hụt ngay trong các tháng mùa khô năm 2026, đặc biệt giai đoạn từ cuối năm 2026 đến đầu năm 2027. Đồng thời, mùa mưa có khả năng kết thúc sớm.
Nguy cơ cao xảy ra hạn hán và xâm nhập mặn, đặc biệt ở khu vực Nam Trung Bộ, cao nguyên Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô 2026, 2027, tình trạng thiếu nước có thể xảy ra trên phạm vi rộng trong những tháng đầu năm 2027.
Sớm tích trữ nguồn nước, điều chỉnh thời vụ sản xuất
Lượng mưa năm 2026 sẽ không thiếu hụt đồng loạt mà có sự biến động lớn. Khu vực Trung Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ và thượng nguồn sông Mê Công sẽ đón đợt mưa lớn trong các tháng 7, 8 và 9. Theo ông Lâm, các địa phương cần tận dụng nguồn nước dồi dào của ba tháng sắp tới để tích nước, điều tiết hồ chứa và lên phương án sản xuất nông nghiệp linh hoạt trước khi bước vào cao điểm thiếu hụt nước.
Để ứng phó, Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Huỳnh Tấn Đạt đề nghị, Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố cần chủ động phòng ngừa hạn hán, xâm nhập mặn từ sớm, từ xa; rà soát, cập nhật thường xuyên dự báo nguồn nước, khả năng xâm nhập mặn để xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với từng vùng sinh thái; không bố trí sản xuất vượt quá khả năng bảo đảm nguồn nước. Tuân thủ lịch thời vụ, cơ cấu giống lúa các vụ hè thu, thu đông và vụ mùa năm 2026 theo khuyến cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật.
Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố cần chủ động phòng ngừa hạn hán, xâm nhập mặn từ sớm, từ xa; rà soát, cập nhật thường xuyên dự báo nguồn nước, khả năng xâm nhập mặn để xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với từng vùng sinh thái; không bố trí sản xuất vượt quá khả năng bảo đảm nguồn nước. Tuân thủ lịch thời vụ, cơ cấu giống lúa các vụ hè thu, thu đông và vụ mùa năm 2026 theo khuyến cáo của Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Huỳnh Tấn Đạt
Theo Phó Cục trưởng Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Quốc Mạnh, đối với cây lúa, tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, việc sản xuất lúa vụ đông xuân 2026-2027 phải được tính toán khoa học, bám sát diễn biến nguồn nước, tình hình lũ, triều cường và nguy cơ xâm nhập mặn.
Cùng với việc tuân thủ lịch thời vụ, các địa phương ưu tiên sử dụng bộ giống lúa ngắn ngày, có khả năng chịu mặn, chịu hạn tốt tại các vùng có nguy cơ cao. Tại những khu vực thường xuyên thiếu nước, không bảo đảm nguồn nước cuối vụ hoặc sản xuất ba vụ kém hiệu quả, cần chuyển từ ba vụ sang hai vụ; hoặc chuyển đổi một phần diện tích sang các loại cây trồng cạn (như ngô, vừng, rau màu, cây thức ăn chăn nuôi) và kết hợp mô hình lúa-thủy sản.
Riêng đối với vùng sản xuất lúa-tôm, nguyên tắc tiên quyết là chỉ tiến hành gieo sạ khi đã có đủ nguồn nước ngọt và khâu rửa mặn đạt yêu cầu. Trong trường hợp nước ngọt về muộn, các địa phương phải chủ động điều chỉnh thời vụ, tuyệt đối không gieo sạ khi độ mặn trên đồng ruộng chưa bảo đảm tiêu chuẩn.
Khu vực duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng phía đông của các tỉnh (vùng ven biển) lưu ý, chỉ gieo trồng lúa nước vụ đông xuân 2026-2027 ở những chân đất có đủ điều kiện về công trình thủy lợi, không gieo trồng diện tích ngoài kế hoạch; những diện tích không có nguồn nước bảo đảm cần ưu tiên sử dụng các giống lúa có thời gian sinh trưởng trung và ngắn ngày. Vùng có nguy cơ thiếu nước cuối vụ và vùng ngập úng đầu vụ, cần sử dụng giống có thời gian sinh trưởng ngắn ngày.
Vùng chủ động nước tưới, sử dụng giống lúa thuần, lúa lai có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng sâu bệnh và có thời gian sinh trưởng từ 90-95 ngày. Thường xuyên thực hiện nạo vét các kênh mương; gia cố các bờ đập, tiến hành kiểm tra và sửa chữa, tu bổ các công trình thủy lợi. Bố trí diện tích sản xuất không vượt quá năng lực phục vụ của công trình thủy lợi, chuyển đổi mùa vụ và cây trồng tại những nơi có khả năng thiếu nước...
Để chủ động bảo vệ diện tích cây ăn quả và cây công nghiệp, ông Mạnh khuyến cáo, khu vực Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long cần tranh thủ tối đa việc nạo vét kênh mương, củng cố đê bao để trữ nước ngọt; tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc kiểm tra độ mặn trước khi bơm tưới, kiên quyết không dùng nước có độ mặn trên 1‰ (riêng nhóm cây mẫn cảm như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt phải dưới 0,5‰), đồng thời tạm dừng hoàn toàn việc rải vụ hoặc trồng mới nếu chưa bảo đảm đủ nguồn nước ngọt.
Đối với khu vực Tây Nguyên cũ, trọng tâm chống hạn cần gắn liền với việc rà soát, tối ưu hóa sức chứa của hệ thống hồ, đập nhằm duy trì nguồn tưới cho các loại cây có nhu cầu nước lớn như cà-phê, hồ tiêu.