Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.

Một bệnh nhân được thực hiện can thiệp điều trị rối loạn nhịp tim. Ảnh: Kim Long
Thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây nhồi máu cơ tim
Nếu trước đây nhồi máu cơ tim chủ yếu xảy ra ở người cao tuổi thì hiện nay bệnh đã xuất hiện nhiều hơn ở người trẻ. Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, một bệnh nhân mới 22 tuổi từng được cấp cứu trong tình trạng tổn thương cả ba nhánh động mạch vành, trong đó động mạch liên thất trước tắc cụt ngay từ đoạn đầu.
Theo các bác sĩ, cách đây gần 30 năm, nhồi máu cơ tim ở thanh niên còn hiếm gặp, nhưng mô hình bệnh tật hiện nay đã thay đổi. Ở người dưới 30 tuổi, xơ vữa chưa phải là thủ phạm chính trong phần lớn trường hợp, vì vậy cần nghĩ tới những nguyên nhân khác. Một số trường hợp có thể xuất phát từ nguyên nhân tự phát, thường gặp ở phụ nữ dưới 35 tuổi, khỏe mạnh, không hút thuốc, sau stress cảm xúc mạnh, gắng sức quá mức hoặc trong thời gian mang thai, sau sinh.
Co thắt động mạch vành lại thường gặp ở người trẻ hút thuốc lá, thuốc lá điện tử, thức khuya kéo dài, sử dụng nhiều cà phê hoặc nước tăng lực. Mạch vành bình thường có thể đột ngột co thắt; nếu kéo dài, có thể hình thành huyết khối và dẫn tới nhồi máu cơ tim cấp.
Ngoài ra, nhồi máu cơ tim ở người trẻ còn có thể liên quan đến việc sử dụng các chất kích thích như cocaine, amphetamine, ma túy đá, cần sa tổng hợp hoặc lạm dụng bóng cười kèm rượu. Một số trường hợp bắt nguồn từ rối loạn đông máu như hội chứng kháng phospholipid, thiếu protein C, protein S, bệnh tự miễn như lupus.
Bất thường bẩm sinh động mạch vành cũng là nguyên nhân cần lưu ý. Khi gắng sức cường độ cao, tim đập nhanh và nhu cầu máu nuôi tim tăng đột ngột; nếu mạch vành bị kẹp giữa hai mạch máu lớn, lượng máu cung cấp có thể không đáp ứng đủ nhu cầu.
Nếu không thuộc những nhóm nguyên nhân trên, bác sĩ sẽ nghĩ nhiều hơn đến tổn thương do xơ vữa mạch máu. Tình trạng này ngày càng gặp ở người trẻ có nhiều yếu tố nguy cơ nhưng chưa được phát hiện hoặc kiểm soát sớm. Đó có thể là hút thuốc lá nhiều năm; sử dụng pod, vape; có người thân từng nhồi máu cơ tim hoặc đặt stent sớm; rối loạn mỡ máu gia đình; đái tháo đường type 2; béo phì nặng; hội chứng chuyển hóa từ nhỏ hoặc tăng huyết áp không được điều trị.
Các bác sĩ khuyến cáo người trẻ có những yếu tố nguy cơ như rối loạn mỡ máu gia đình, đái tháo đường hoặc tăng huyết áp cần bỏ thuốc lá và các sản phẩm chứa nicotine. Khi gắng sức mà xuất hiện đau ngực, khó thở, vã mồ hôi hoặc biểu hiện khác thường, cần đến khám chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt.
Theo dõi rối loạn nhịp tim
Hồi hộp, đánh trống ngực, tim đập nhanh hoặc không đều, hụt nhịp, chóng mặt, thậm chí ngất có thể là dấu hiệu cảnh báo rối loạn nhịp tim. Không phải mọi cơn 'lỡ nhịp' đều nguy hiểm, nhưng một số rối loạn nhịp có thể làm tăng nguy cơ suy tim, đột quỵ hoặc đột tử nếu không được phát hiện và điều trị phù hợp.
Rối loạn nhịp tim có thể liên quan đến bệnh mạch vành, tăng huyết áp, suy tim, bệnh cơ tim, béo phì, đái tháo đường, bệnh thận mạn hoặc hội chứng ngưng thở khi ngủ. Khi thấy tim đập nhanh, bỏ nhịp hoặc có cảm giác bất thường, nhiều người thường nghĩ ngay đến việc dùng thuốc để đưa nhịp tim trở lại bình thường. Tuy nhiên, điều trị không chỉ dừng ở kiểm soát cơn mà cần xác định đúng loại rối loạn nhịp, điều trị bệnh tim nền và kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch, thận và chuyển hóa.
TS.BS Phạm Trần Linh, Trưởng khoa Rối loạn nhịp và Điện sinh lý, Viện Tim mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai, Chủ tịch Phân hội Nhịp tim Việt Nam cho biết, điều trị rối loạn nhịp cần được đặt trong tổng thể bệnh cảnh của từng người. 'Không có một loại thuốc hay một phương pháp duy nhất phù hợp với tất cả. Việc lựa chọn điều trị cần dựa trên loại rối loạn nhịp, bệnh tim nền, nguy cơ tim mạch và đặc điểm của từng bệnh nhân', TS Linh cho biết.
Một thay đổi quan trọng trong điều trị rối loạn nhịp hiện đại là chuyển từ tư duy chỉ kiểm soát cơn sang chiến lược toàn diện hơn. Đặc biệt với bệnh nhân rung nhĩ, kiểm soát tốt huyết áp, cân nặng, đường huyết và suy tim; hạn chế rượu bia, thuốc lá; duy trì vận động phù hợp và điều trị hội chứng ngưng thở khi ngủ có thể góp phần giảm gánh nặng bệnh cũng như nguy cơ tái phát.
Các thuốc chống loạn nhịp như nhóm IC, amiodarone, dronedarone hay sotalol vẫn có vai trò trong những tình huống phù hợp. Tuy nhiên, amiodarone dù hiệu quả trong nhiều trường hợp có thể gây tác dụng không mong muốn trên tuyến giáp, gan, phổi và các cơ quan khác khi dùng kéo dài. Rối loạn điện giải như hạ kali, hạ magnesi máu cũng có thể làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp. Người bệnh không nên tự mua thuốc chống loạn nhịp, dùng lại đơn thuốc cũ hoặc tự ý thay đổi liều.
Theo TS.BS Phạm Trần Linh, sự phát triển của điện sinh lý học tim đã mở rộng các lựa chọn điều trị. Triệt đốt qua đường ống thông sử dụng catheter chuyên dụng để xác định vị trí hoặc đường dẫn truyền bất thường, sau đó tác động lên vùng mô đích bằng nguồn năng lượng phù hợp. Với nhiều loại nhịp nhanh trên thất, triệt đốt có thể được cân nhắc sớm ở bệnh nhân phù hợp. Trong rung nhĩ, phương pháp này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược kiểm soát nhịp.
'Điện tâm đồ là phương tiện nền tảng để đánh giá rối loạn nhịp. Tuy nhiên, do nhiều rối loạn chỉ xuất hiện từng cơn, người bệnh có thể cần theo dõi Holter điện tâm đồ hoặc các thiết bị ghi nhịp kéo dài. Người bệnh không nên tự ý sử dụng lại đơn thuốc chống loạn nhịp; một loại thuốc phù hợp với người này có thể không phù hợp, thậm chí gây nguy hiểm cho người khác', TS Linh nhấn mạnh.
Theo chuyên gia, việc nhận biết sớm triệu chứng, thăm khám khi có dấu hiệu bất thường, kiểm soát bệnh nền và điều trị đúng cách có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa biến cố. Với người trẻ, đau ngực, hụt hơi, hồi hộp, chóng mặt hay ngất không nên bị xem nhẹ chỉ vì tuổi còn trẻ.
Trong mỗi gia đình, để ý tới những thay đổi nhỏ về sức khỏe của người thân đôi khi cũng là một cách bảo vệ lẫn nhau. Nhắc đi khám đúng lúc, cùng kiểm tra sức khỏe mỗi ngày có thể giúp phát hiện nguy cơ sớm và tránh những biến cố đáng tiếc.