Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.

Với việc hướng tới bảo hiểm y tế toàn dân, người dân được khám bệnh, sàng lọc định kỳ, quản lý sức khỏe liên tục (Ảnh: Thu Trang)
Nghị quyết số 72-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu phải thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức và hành động đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, nhằm đáp ứng yêu cầu cấp bách từ thực tiễn. Trong đó, chuyển mạnh từ tư duy tập trung vào khám bệnh, chữa bệnh sang chủ động phòng bệnh; chú trọng bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe toàn diện, liên tục theo vòng đời. Để làm được điều đó thì việc triển khai quản lý sức khỏe liên tục; tổ chức khám và sàng lọc sức khỏe định kỳ và củng cố y tế cơ sở… là hết sức cần thiết.
Đây là bước chuyển đúng hướng, nhưng cần đi cùng nguồn lực ổn định và cơ chế chi trả phù hợp cho các ưu tiên trong bối cảnh tình trạng già hóa dân số, bệnh không lây nhiễm đang gia tăng trong khi chi tiền túi của người dân vẫn chiếm khoảng 39,2% tổng chi y tế.
Tại phiên chuyên đề chính sách 'Đổi mới đột phá tài chính y tế đáp ứng yêu cầu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới' trong khuôn khổ Hội nghị Khoa học được Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức mới đây, một vấn đề được đặt ra là Việt Nam sẽ huy động nguồn lực từ đâu để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 72-NQ/TW về bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; chuyển dịch hệ thống y tế theo hướng ưu tiên dự phòng; giảm chi trả tiền túi; triển khai khám và sàng lọc sức khỏe định kỳ, củng cố y tế cơ sở…; hướng tới miễn phí khám, chữa bệnh cơ bản vào năm 2030.
Các đại biểu thống nhất rằng, chuyển dịch tài chính y tế từ chi trả thụ động sang đầu tư chủ động cho phòng bệnh là hướng đi cần thiết để vừa bảo đảm an sinh xã hội, vừa nâng cao tính bền vững của Quỹ Bảo hiểm y tế (BHYT).
Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế (Bộ Y tế) Trần Thị Trang cho rằng: nguồn quỹ BHYT có hạn, trong khi mức đóng vẫn duy trì trong nhiều năm. Do đó, bên cạnh giải pháp sử dụng quỹ hiệu quả, cần tăng cường quản lý minh bạch, liên thông dữ liệu, đổi mới cơ chế tài chính. Tuy nhiên, nếu vẫn duy trì mức đóng như hiện nay, về lâu dài sẽ khó cân đối quỹ. Bên cạnh đó, các chính sách mới cũng đưa ra nhiều quyền lợi cho người tham gia BHYT. Vì vậy, cần có thêm những nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu mở rộng quyền lợi cho người tham gia BHYT.

Phiên hội thảo chuyên đề chính sách 'Đổi mới đột phá tài chính y tế đáp ứng yêu cầu thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới'. (Ảnh: Minh Hoàng)
Tuy nhiên, đổi mới tài chính y tế cần song hành với cải cách hệ thống y tế quốc gia. Các mục tiêu của Nghị quyết 72-NQ/TW cần được nhìn nhận không chỉ từ góc độ chính sách, mà cả từ góc độ nguồn lực tài chính để thực thi. Thách thức lớn nhất của y tế Việt Nam trong những năm tới không nằm ở việc xác định mục tiêu, mà ở việc thu hẹp khoảng cách giữa nguồn lực hiện có và nguồn lực cần thiết để hiện thực hóa các cam kết đến năm 2030.
Đáng chú ý, Việt Nam đang có cơ hội mở rộng không gian tài khóa cho y tế và xây dựng một nền tảng tài chính bền vững hơn cho BHYT toàn dân. Việt Nam đang đứng trước một 'cửa sổ cơ hội' quan trọng, với độ bao phủ BHYT gần như toàn dân và dư địa tài khóa tương đối tích cực. Tuy nhiên, dư địa này đang thu hẹp trước áp lực già hóa dân số và gia tăng bệnh không lây nhiễm - hiện chiếm 81% số ca tử vong; chi phí khám, chữa bệnh BHYT đã tăng khoảng 8 lần trong 14 năm.
Theo phân tích của các chuyên gia Nhóm Nghiên cứu công nghệ y tế, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE) trong báo cáo 'Đổi mới tài chính y tế và không gian tài khóa y tế tại Việt Nam: Đánh giá tác động và tính khả thi của các giải pháp cơ chế tài chính mới bảo đảm công bằng trong tiếp cận và bền vững của quỹ BHYT', khoảng trống tài khóa y tế có thể tăng từ 279 nghìn tỷ đồng lên 510 nghìn tỷ đồng vào năm 2030 nếu không có các giải pháp phù hợp. Điều này đòi hỏi một chiến lược đa chiều, kết hợp nhiều đòn bẩy thay vì phụ thuộc vào một nguồn lực đơn lẻ. Cải cách tài chính y tế còn đi kèm với cơ hội chuyển đổi khoản đầu tư y tế thành tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Một trong những nguồn lực được các chuyên gia đề cập đó là nguồn thu từ thuế tiêu thụ đặc biệt đối với các sản phẩm có hại cho sức khỏe như thuốc lá, rượu bia và đồ uống có đường. Trưởng khoa Tài chính y tế - Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế), Tiến sĩ Ong Thế Duệ cho rằng, nguồn thu bổ sung từ chính sách thuế có thể được phân bổ theo hướng tăng đầu tư trở lại cho y tế.
Một mô hình được đề xuất là dành khoảng 60 đến 80% nguồn thu bổ sung cho Quỹ BHYT, phần còn lại phân bổ cho Quỹ Phòng bệnh và ngân sách chung, theo lộ trình thể chế hóa trong giai đoạn 2026-2030. Cách tiếp cận này không chỉ nhằm tạo thêm nguồn lực cho hệ thống y tế mà còn hướng tới một mục tiêu kép: hạn chế tiêu dùng các sản phẩm có hại cho sức khỏe, đồng thời sử dụng nguồn thu từ những sản phẩm này để đầu tư cho phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe người dân.
Kinh nghiệm tại khu vực APEC chia sẻ tại hội thảo cũng cho thấy khu vực tư nhân có thể trở thành một phần quan trọng trong việc đa dạng hóa nguồn tài chính cho y tế.

Bảo hiểm y tế chi trả nhiều dịch vụ kỹ thuật y tế chất lượng cao. (Ảnh: Thế Anh)
Để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 72-NQ/TW đến năm 2030, Việt Nam cần một lộ trình tài chính y tế khả thi, ưu tiên nguồn lực công, sử dụng ngân sách hiệu quả và huy động sự phối hợp liên ngành, công-tư. Ở đó, Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, các bộ, ngành, cơ quan bảo hiểm y tế, cơ sở y tế, khu vực tư nhân và người dân cùng góp phần xây dựng hệ thống công bằng, hiệu quả và bền vững. Ưu tiên hàng đầu là tăng phân bổ ngân sách nhà nước; thuế tiêu thụ đặc biệt thuốc lá, rượu bia và thuế xổ số chỉ là nguồn bổ sung; BHYT cần cải cách từng bước; còn bảo hiểm bổ sung, chương trình hỗ trợ thuốc cho bệnh nhân… là công cụ hỗ trợ tiếp cận chứ không thay thế tài trợ công.
Thạc sĩ Hoàng Trung Tuấn, Phó Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế cho biết: Giải pháp tài chính là một trong những định hướng đổi mới quan trọng trong thực hiện chính sách BHYT giai đoạn 2026-2030. Theo đó sẽ tăng chi từ ngân sách, tăng mức đóng (theo lộ trình) có sự tham gia của quỹ phòng bệnh; đồng thời đa dạng hóa nguồn tài chính (BHYT bổ sung, thương mại, chương trình hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh tham gia BHYT)… Mặt khác đổi mới phương thức chi trả, nâng cao hiệu quả quản lý quỹ BHYT, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực…
Việc đổi mới cơ chế tài chính BHYT dự kiến được triển khai theo từng bước, trong đó có tăng mức đóng BHYT từ năm 2027 theo lộ trình và thí điểm đa dạng hóa các gói BHYT, phát triển BHYT bổ sung theo nhu cầu của người dân.
Như vậy, với định hướng chính sách rõ ràng, cách tiếp cận đa nguồn lực và sự phối hợp giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và các bên liên quan, Việt Nam đang có cơ hội mở rộng không gian tài khóa cho y tế và xây dựng một nền tảng tài chính bền vững hơn cho BHYT toàn dân.