Vui lòng xác nhận bạn đã đủ
18 tuổi để đọc tiếp
Bằng cách nhấp vào xác nhận “Tôi đã đủ 18 tuổi” là bạn đồng ý với các điều khoản của bài viết này.
Không phải ai cũng có điều kiện học IELTS
Đoàn Minh Việt, học sinh lớp 11A4, Trường THPT Việt Đức, bắt đầu học IELTS từ đầu lớp 8. Sau khi học đến cuối năm, em thi vào dịp hè và đạt 7.5.
Ban đầu, Việt học IELTS để có thêm phương án dự phòng cho xét tuyển, trong đó có chính sách tuyển thẳng của Hệ thống giáo dục Archimedes. Em cũng muốn dùng chứng chỉ để đánh giá năng lực tiếng Anh, khi đó dự định thi vào trường chuyên, dù sau này không theo học.

Theo Việt, IELTS không chỉ có giá trị trong xét tuyển đại học. Chứng chỉ giúp em có cơ hội làm trợ giảng tiếng Anh, tích lũy kinh nghiệm thực tế và có thể tạo lợi thế khi tìm việc hoặc các cơ hội phát triển sau này.
Tuy vậy, nam sinh cho rằng đề xuất bỏ điểm cộng IELTS là hợp lý.
'Không phải học sinh nào cũng có đầy đủ điều kiện kinh tế cũng như cơ hội học tập thuận lợi để theo học và thi IELTS', Việt nói.
Theo em, nếu tiếp tục cộng điểm cho chứng chỉ, những học sinh có điều kiện học IELTS sẽ có thêm lợi thế cạnh tranh.
Việt cho rằng việc quy đổi chứng chỉ thành điểm môn Ngoại ngữ vốn đã tạo ra lợi thế. Nếu vừa quy đổi, vừa cộng thêm điểm thì một chứng chỉ có thể mang lại quyền lợi hai lần trong cùng phương thức xét tuyển.
'Do không phải học sinh nào cũng có điều kiện và cơ hội tiếp cận để ôn luyện, thi IELTS, nên việc bãi bỏ điểm cộng và chỉ giữ quy đổi điểm theo em sẽ đảm bảo tính công bằng hơn', Việt nhấn mạnh.
Cần có lộ trình rõ ràng để học sinh chủ động
Nguyễn Lan Phương, học sinh Trường THPT Việt Đức cũng cho rằng việc bỏ điểm cộng có thể giúp tăng công bằng cho học sinh ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện tiếp cận việc học và thi IELTS còn hạn chế.
Tuy nhiên, Phương cho rằng thay đổi này có thể gây khó khăn cho những học sinh đã dành nhiều thời gian, công sức và tiền bạc để chuẩn bị chứng chỉ.
Nữ sinh ước tính đã chi hơn 50 triệu đồng cho quá trình học tập và chuẩn bị thi IELTS.
Theo Phương, cơ quan quản lý cần có lộ trình rõ ràng để học sinh chủ động điều chỉnh kế hoạch học tập và tuyển sinh.
'Cơ quan quản lý nên có lộ trình điều chỉnh với tiến độ hợp lý và quy định cụ thể hơn, giúp các bạn học sinh chủ động lựa chọn những phương án thi tối ưu, đạt kết quả tốt nhất và phù hợp nhất với năng lực của mình', Phương chia sẻ.

Lan Phương và Trâm Anh đều ủng hộ và cho rằng chủ trương điều chỉnh có thể giúp tăng công bằng cho học sinh ở vùng sâu, vùng xa.
Theo em, lộ trình từng bước cũng giúp học sinh chủ động lựa chọn chứng chỉ ngoại ngữ và định hướng môn học phù hợp cho kỳ thi tuyển sinh.
Nguyễn Trâm Anh cũng đồng tình với mục tiêu bảo đảm công bằng của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng băn khoăn về lộ trình và cách thức áp dụng.
Trâm Anh cho biết bản thân và nhiều học sinh khác đã dành nhiều thời gian, công sức và chi phí tài chính cho việc ôn luyện chứng chỉ ngoại ngữ. Khi chính sách thay đổi, thời gian và chi phí đã bỏ ra không thể lấy lại, có thể tạo thêm áp lực tài chính cho gia đình và tâm lý thi cử cho học sinh.
Ban đầu, Trâm Anh cho rằng cần khoảng 4-5 năm chuyển tiếp để học sinh rà soát phương thức xét tuyển và cân nhắc định hướng vào các trường đại học mục tiêu. Sau khi cân nhắc, em thấy khoảng 2-3 năm cũng có thể là thời gian phù hợp để học sinh thích ứng và điều chỉnh kế hoạch học tập, tài chính.
Một IELTS 6.0 có 26 mức điểm cộng
Đề xuất bỏ điểm cộng IELTS được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra trong bối cảnh việc sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ trong tuyển sinh đại học đang có sự khác biệt lớn giữa các trường.
Định hướng của Bộ là một ngành, chương trình đào tạo phải có tiêu chí tuyển sinh thống nhất, điểm đầu vào giữa các phương thức tương đương. Từ năm 2023, Bộ yêu cầu các trường thực hiện quy đổi tương đương để giảm chênh lệch; năm 2026 tiếp tục khống chế điểm cộng chứng chỉ tối đa 1,5/30.

Theo GS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục đại học, đây là vấn đề 'nan giải' và từng được nhiều trường đề xuất.
Ông cho biết, Bộ chỉ đưa ra thang quy đổi chung khi có dữ liệu đủ lớn, chính xác cùng các nghiên cứu, đánh giá và luận cứ khoa học. Trong khi đó, các trường có dữ liệu riêng về kết quả học tập của sinh viên có thể đưa ra mức quy đổi phù hợp hơn với từng trường, ngành và chương trình.

Năm 2026, hơn 37.300 thí sinh sử dụng chứng chỉ tiếng Anh để được cộng điểm, trong đó hơn 35.900 em dùng IELTS. IELTS 6.0 là mức phổ biến nhất, với hơn 8.300 thí sinh, nhưng được các trường quy đổi thành 26 mức điểm cộng khác nhau. Ảnh: Xuân Quý
Chứng chỉ ngoại ngữ, chủ yếu là IELTS, được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép miễn thi và quy đổi thành điểm môn Ngoại ngữ trong kỳ thi tốt nghiệp THPT từ năm 2015. Đến nay, hơn 100 trường sử dụng chứng chỉ trong xét tuyển đầu vào.
Bỏ điểm cộng, nhưng quy đổi thế nào?
Thạc sĩ Lê Văn Hiển, phụ trách Phòng Đào tạo, Đại học Luật TP HCM, cho biết lâu nay chứng chỉ quốc tế như IELTS chủ yếu được dùng để quy đổi thành điểm thi tốt nghiệp THPT môn tiếng Anh hoặc cộng điểm khuyến khích.
Theo ông, nếu Bộ bỏ điểm cộng nhưng vẫn cho phép quy đổi và giao các trường tự quyết cách tính, cần có quy định đủ chặt chẽ để tránh tạo ra bất công tương tự cơ chế cộng điểm.
Ông dẫn ví dụ một học sinh đạt IELTS 7.5 được tính là 10 điểm tiếng Anh, nhưng nếu thi tốt nghiệp THPT chỉ đạt 9 điểm môn này thì độ lệch là 1 điểm.

Theo ông Hiển, Bộ nên xây dựng thang quy đổi chung trên toàn quốc hoặc có hướng dẫn xử lý khi điểm quy đổi chênh lệch quá lớn.
'Nếu để các trường quy định thì không thống nhất, một năng lực lại được quy đổi sang nhiều mức điểm khác nhau', ông nói.
Trong khi đó, GS Nguyễn Tiến Thảo cho rằng việc bỏ điểm cộng không đồng nghĩa chứng chỉ ngoại ngữ mất giá trị. Nếu ngành đào tạo cần ngoại ngữ, chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi để thay thế môn Ngoại ngữ; với chương trình giảng dạy bằng ngoại ngữ có yêu cầu đầu vào, chứng chỉ vẫn được sử dụng để xác nhận thí sinh đáp ứng yêu cầu.
'Việc bỏ điểm cộng là bước tiếp theo trong lộ trình kiểm soát và chuẩn hóa tuyển sinh, nhằm đưa thí sinh dự tuyển cùng một ngành về những tiêu chí đánh giá tương đương hơn', ông Thảo khẳng định.